Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

NIỆM SỐ TRỊ BỆNH.


Chữa bệnh bằng "Thần dược số", liệu pháp đọc "Tượng số bát quái" được giới thiệu trên tạp chí "Trung hoa khí công" số 4 năm 1993 đã gây tiếng vang lớn trong quảng đại quần chúng, phương pháp này đã được hai bác sỹ họ Lý là Lý Kiện Dân và Lý Ngọc Sơn biên tập lại và đặt tên là Chữa bệnh theo Chu Dịch 

Thường xuyên, liên tục, đều đặn hằng ngày đọc (niệm) những chuỗi số thể hiện bệnh trạng cũng là một cách dưỡng sinh chữa bệnh, làm não bộ hoạt động tích cực, kích thích phát lộ các khả năng tiềm ẩn của cơ thể con người như: tự tổ chức, tự thích nghi, tự điều chỉnh và tự tái tạo...

Đó chính là công phu luyện Ý hồi phục sức khỏe, dưới đây là phần trả lời hỏi đáp về đọc tượng số tự chữa bệnh theo chu dịch của các tác giả. 

Liệu pháp tượng sô bát quái bản thân cũng là một loại khí công tại sao không gọi tên là công pháp mà lai gọi là liêu pháp?

Một là liệu pháp tượng số bát quái lấy hạt nhân là học thuyết bát quái, lý luận đông y lấy tượng số bát quái là liệu pháp khí công, nó không giống như khí công nói chung, gồm một sô động tác phải cần đến một số yêu cầu nào đó về mặt điều thân, điều tâm, điều ý; nó là "tự nhiên", "tự do", "tự vi";
Hai là liệu pháp này tùy cho từng người để lập số biện chứng thi trị lấy trị bệnh là chính do đó là liệu pháp phù hợp với thực tê hơn.

Khi niệm tượng số tại sao không lệ thuộc vào thời gian địa điểm, tư thê, phương vi, mà có thê niệm tùy ý, đi ngồi hoặc nằm.

Vì tượng số bát quái là hình ảnh thu nhỏ của thiên đạo, vật đạo, nhân đạo, nó đều bao hàm các tin tức vũ trụ phong phú. là môi giới của "thiên nhân hợp nhất". Cho nên bản thân mỗi một mã tượng số đều mang theo những tin tức tương ứng, trong quá trình niệm có thê điều chỉnh tự nhiên trường bát quái của cơ thể làm cho cộng hưởng đồng bộ với trường bát quái vũ trụ. vì thế không ràng buộc (tên thời gian, địa điếm, tư thế,phướng vị và có thể niệm tùy lúc. tùy nơi. trong khi đi, ngồi, nằm của sinh hoạt hàng ngày. Nhưng cũng có trường hợp đặc biệt, như có người bệnh đã theo một phương vị nhất định, niệm với thòi gian nhất định để tăng cường hiệu ứng của tin tức thòi gian, không gian.
Khi lập tượng sô qua niệm không thích hợp,phải điều chỉnh nhóm sô khác, thì thời gian giãn cách bao lâu là thích hơp.

Khi niệm nhóm tượng số, nếu xuất hiện những hiện tượng không thích hợp thây từ đầu, dạ dày và tim, cũng có thể do lập số sai, hoặc do bản thân người bệnh vì khí huyết không lưu thông có kinh lạc bị tắc nghẽn, vẫn có thể thử niệm, hay thử niệm nhóm sau đó. Nhưng khi người bệnh có xuất,hiện cảm ứng rõ ràng, thì hãy tạm nghỉ; đợi sau khi được hoãn giải lại niệm thử.

Khi niêm sô thì niêm như thê nào?
Nói chung khi niệm thì niệm không thành lời hoặc phối hợp với ý niệm. Tốc độ niệm nên chỉ trung bình, không nhanh cũng không chậm, nhanh quá dễ bị nóng, chậm quá dễ bị lạnh. Giữa các nguyên nên dừng một chút.

Ý nghĩa của sô "0" ở trước và sau tượng sô là thê nào?

Trường hợp chung số 0 đặt sau tượng số, ngoài công hiệu làm mạnh các tín hiệu tượng số và thông kinh lạc ra, còn có hiệu quả điều hòa. Nếu gặp các bệnh cấp tính hoặc các bệnh ngoan cô",thì trước và sau tượng số đều có thể thêm số 0 có tác dụng cường hóa. Mặt khác do âm dương có lúc thịnh lúc suy khác nhau, và số" 0 trước và sau tượng sô" cũng không giống nhau. Trường hợp chung, khi thiên về âm hư hoặc dương thịnh, thì sô" không được đặt ở phía trước sô”. Ngược lại, được đặt tại phía sau số. Khi lập số trên lâm sàng còn phải căn cứ vào tính của âm dương sinh ra do số 0 là chẵn hay lẻ (số 0 chẵn, là âm, 0 lẻ là dương cần phải được vận dụng linh hoạt).

Trong quá trình niệm liệu pháp tượng số, đa sô người bệnh thuộc loại rõ ràng, có rất ít người bệnh thuộc loại ngầm, hiệu quả của nó ra sao?

Trường hợp chung, đa số bệnh nhân trong quá trình niệm số, có thể xuất hiện đầu nhẹ nhõm, sáng mắt. thần khí thoải mái, mát nóng, hành khí v.v... với những cảm giác dễ chịu khác nhau. Loại cảm ứng này, nói chung trong quá trình niệm chỉ cần mày phút hoặc mười mấy phút là đã xuất hiện nên thuộc loại rõ ràng. Còn có rất ít trường hợp phải niệm tới nửa giờ hoặc dài hơn nữa mới xuất hiện cảm ứng thì thuộc loại ngầm.Người loại bệnh rõ ràng, nói chung chữa tương đôi nhanh, còn người loại bệnh ngầm thì tương đối chậm, tuy nhiên hiệu quả chữa trị vẫn là ổn định.

Liệu pháp tượng sô có thê phôi hợp với các liêu pháp khác hoặc khí công?

Thông thường có thể phôi hợp các phương pháp chữa trị khác nhau như châm, ấn huyệt v.v... Khi dùng liệu pháp này thì không nên phôi hợp với các loại khí công khác, vì có một số khí công có ảnh hưởng tới liệu pháp tượng số.

Trong quá trình điều trị bằng liệu pháp tượng số, không những chữa khỏi bệnh cần chữa ngay mà thường thường lai chữa được cả các bênh khác kèm theo nữa, vây tai sao?

Chỉnh thể quan, bình hoành quan, vận động quan của vũ trụ là nguyên lý mà liệu pháp tượng số làm căn cứ. Cho nên bất cứ lập nhóm số nào hợp lý đểu tác dụng trực tiếp vào cục bộ, ngoài ra nó còn tiến hành điều chỉnh chỉnh thể, để trường bát quái của người vận động chấn với trường của bát quái vũ trụ, dễ điều hòa khí cân bằng âm đương làm cho toàn thân được điều chỉnh.

Tai sao niêm sô, thường làm cho người ta hết mệt mỏi và tinh lực tăng cường
Khi niệm số, do trực tiếp điều tiết trường bát quái cơ thể, làm kinh lạc cơ thế khai thông, cộng chấn với trường bát quái thiên thể, càng lợi cho việc tiếp nhận tin tức của trường bát quái vũ trụ. bổ khí của cơ thể, làm tinh lực tăng trưởng, không thấy mệt mỏi.

Trong khi lập tượng sô nên phôi hợp với ngũ hành là tốt nhất phải không?
Đúng mà lại không đúng. Do vì thịnh suy âm dương của người bệnh khác nhau, có bệnh nhân tiếp thu được tượng số có phối hợp với thuộc tính ngũ hành, qua niệm thấy dễ chịu, nhẹ nhõm là thuộc bài niệm tốt nhất và hợp lý. Nhưng cũng có người bệnh không thế tiếp thu lập số có kết hợp thuộc tính ngũ hành. Đối với người bệnh nàv thì lập số theo ngũ hành là bài niệm không hợp lý.Tóm lại: Khi lập số sẽ phải lập biện chứng khác nhau cho từng người tức là chìa nào mỏ khóa nấy, đó mới là bài niệm tốt nhất.: cho dù là kết hợp hay không với thuộc tính ngũ hành, đều phải cộng chấn đồng bộ của trường bát quái trong và ngoài cơ thế, luôn luôn tương thông với nhau.

Tai sao lâp tương sô đều theo thứ tư dưỡng sinh của ngũ hành?

Quan hệ giữa tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái là quan hệ thể và dụng, liệu pháp tượng số chính là vận dụng quan hệ thể dụng này. Hậu thiên bát quái lây thứ tự tương sinh ngũ hành, đem vạn sự vạn vật của thiên hạ phân loại theo ngũ hành nạp vào trong bát quái, lấy thứ tự thời gian làm thành một vòng tròn để biểu thị quy luật vận động biến hóa của vạn vật (bao gồm cả người). Cách lập tượng số của nó lấy thứ tự tương sinh ngũ hành, tức là thuận theo quv luật vận động của hậu thiên bát quái, thuận theo tượng thiên hợp nhất.

Trong lập tượng sô chi dùng đến 8 quái số của tiên thiên bát quái, tại sao lại chữa được những chứng bệnh thiên biến vạn hóa.
Bát quái đại biểu cho 8 tính chất cơ bản của sự vật, nó có thê đại biểu cho tất cả mọi thứ, sự vật mà nó đại biểu là vô hạn cho nên các bệnh tật của con người dù thiên biến vạn hóa đều có thể căn cứ vào tượng để quy loại vào trong bát quái. Liệu pháp tượng sô”, tuy chỉ có 8 sô' của tiên thiên, nhưng có thể lập tượng số biến hóa đa đoan để điều trị bệnh.

Ưu điểm của liệu pháp tượng sô là gì ?
Ưu điềm của nó là không làm tổn thương khí cho người điều trị, tiện lợi dễ dàng, phương pháp giản đơn, hiệu quả kỳ lạ, đạo lý thâm sâu, được sử dụng hàng ngày trong lúc đi, ngồi hay nằm, rất đơn giản, cách chữa bệnh nâng cao sức khỏe đúng đạo lý thiên nhân hợp nhất. Cho nên người niệm sô" mà kiên trì thường xuyên thì đều thu được hiệu quả tốt. Chỉ cần có đủ trí nhớ, tinh thần bình thường thì dù nam nữ lão ấu đều có thể thu lợi ích khi niệm.

Tai sao lập tượng sô chỉ dùng sô từ 1 đến 8 mà không dùng 9?
Liệu pháp tượng sô bát quái là dùng số của tiên thiên bát quái tức là 1, 2, 3 ,4, 5, 6, 7, 8. Những con sô" khác không thấy ghi trong tiên thiên bát quái cho nên chỉ dùng 8 số.
Khi niệm tượng số, nói chung bao nhiêu thời gian thì xuất hiện cảm ứng
Niệm tượng số, nói chung chỉ mấy phút hoặc mười mấy phút là đã xuất hiện các loại cảm ứng khác nhau. Thậm chí có rất ít người bệnh, chỉ nhìn thoáng con số hoặc nghĩ thoáng một cái là có cảm ứng; cũng có một sô rất ít phải từ nửa ngày đến mười mấy ngày mới có cảm ứng. Cái gọi là cảm ứng nói chung là cảm ứng thoải mái như đầu nhẹ nhàng, sáng mắt, thần khí trong sáng, mát. nóng, hành khí v.v... Ngược lại cảm thấy khó chịu, xuất hiện ở đầu, dạ dày, tim v.v...

Khi niệm tượng sô có cần cấm kỵ gì về ăn uống không?
Khi niệm tượng số không có một cấm kỵ nào về ăn uống cũng như thòi gian trước và sau ăn uống, tất cả đều thuận theo tự nhiên.

Có một sô người bênh khi niêm sô trên lâm sàng, dễ gây nên khó chịu, tại sao?
Trường hợp này không tránh khỏi có nhầm lẫn trong lập sô". Nói chung trường hợp này và bệnh nhân này, một là do tính khí có nhiều suy tư, cũng có thế là do bệnh tình phức tạp, thời gian mắc bệnh quá dài nên gây ra kinh lạc không thông, bị tắc nghẽn rõ ràng, nên khi niệm sô" dễ gây ra khó chịu. Nêu gặp những trường hợp này có thê dùng những biện pháp sau: tức là chọn một nhóm số" 0 thích hợp mỗi
lần, cho niệm vài lần rồi thôi, nếu qua vài lần kinh lạc có thể có chấn động và có thế tiếp thu bài niệm.

Trong quá trình niệm tượng số, có một sô rất nhỏ người xuất hiện hiện tượng tương tự như "ngây ngất" thì phải đề phòng ra sao?
Quan sát quá trình người bệnh niệm số, thứ nhất trước tiên phải hảo người bệnh về những cảm ứng trong khi niệm (tức là thoải mái hoặc là khó chịu) thì báo ngay cho bác sĩ biết. Hai là bản thân người theo dõi cũng phải quan sát chú ý, hỏi han người bệnh: nói chung niệm trong 1 đến 2 phút hoặc thời gian ngắn hơn nữa là có thể hỏi cảm ứng của người bệnh. Trên lâm sàng có thể chia thành 3 loại. Loại cực nhạy, loại nhạy và loại chậm; trong đó nhạy chiếm đa số. Khi niệm nếu thấy thoải mái thì cứ tiếp tục niệm; nếu niệm thấy khó chịu thì chuyển xuống số khác. Nếu như có sự phôi hợp giữa thầy thuốc và bệnh nhân thì sẽ không có hiện tượng "ngây ngất", đợi cho bệnh nhân nằm yên ít phút là có thể trở lại bình thường.Với những người bệnh nặng thì có thể ấn vào nhân trung, thập tuyền, hợp cốc, bách hội, lao cung v.v... hoặc có thể châm cứu, nhưng trong' lâm sàng ít gặp.

Trong quá trình thực hiện chữa bệnh thì cần phải bao nhiêu thời gian đê đi điều chỉnh lần khác
Trong quá trình niệm số", nếu có phản ứng tốt thì có thể giữ nguyên sô' đó, nhưng đa sô" trường hợp căn cứ vào thay đổi của bệnh tình cần phải điều chỉnh sô’ mới để đạt hiệu quả và tốt' độ nhanh nhất. Nhất là đôi với bệnh mạn tính.
Khi niệm sổ, khoảng bao nhiêu thời gian thì có kết quả

Với người nhạy bén thường thưòng là thu được nhanh, nhưng để củng cô bệnh phải căn cứ vào bệnh tình là cấp tính hoặc mạn tính mà cho niệm thời gian dài hay ngắn khác nhau. Đợi sau khi khỏi bệnh tiếp tục cho niệm không chỉ để củng cố chữa bệnh mà còn đê nâng cao sức khỏe.

Nên có nhiều loại bệnh thì có thê đồng thời niêm nhiều nhóm sô được không?

Không thể, dù là có nhiều bệnh, nhưng trên lâm sàng chỉ có một khái quát là "âm chứng" và "dương chứng", tức là phải lấy tổng cương của âm dương để điều chỉnh, tức là tùy theo nặng nhẹ mà điều chỉnh chỉnh thể, phải tôn trọng tuần hoàn "pháp vu âm dương, hợp vu sô" thuật”. Cho nên mỗi lần chỉ niệm một nhóm sổ”, tức được điều chỉnh có thứ tự từ từ, nếu niệm nhiều nhóm sô' một lúc dễ có phản ứng không tốt. Như ở Bắc Kinh một độc giả họ Ngô... bị bệnh da đã chọn dùng một nhóm số trong luận văn của người viết để niệm tượng sô" chữa bệnh đã thu được hiệu quả rõ ràng. Nhưng lại muôn chữa trị thêm bệnh khác lại chọn 2 nhóm sô", mỗi ngàv niệm 3 nhóm sô" nên nó đã ảnh hướng đến nhau. Nên nhớ rằng mỗi nhóm số hợp lý. dù là tượng sổ nhiều hay ít đều phải tuân theo sinh khắc chế hóa của ngũ hành, phải lập theo "thiên nhân hợp nhất"; cho nên khi chữa khỏi bệnh chính nào đó thì những bệnh kèm theo khác cũng được chữa khỏi.

Liệu pháp tượng sô bát quái có gỉ khác vói số tự công của sinh mệnh con người?
Đây là hai loại công pháp và liệu pháp hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt của nó gồm 3 điểm sau: một là chữ sô" dùng khác nhau, sô" công của sinh mệnh con người là dùng 10 sô" (gồm cả 9). Hai là: hàm ý của chữ sô" cũng khác nhau, sô" của chúng tôi đúng là tượng số bát quái là "tỷ loại thủ tượng", "dĩ tượng định sổ”. 

Còn “sô" tự công" là dùng mã sô' nhị tiến chế phản ánh hình thức xung mạch sinh vật của cơ thể, sau đó đem mã sô" nhị tiến vị phiên dịch thành chữ số thập tiến vị. Như "1" cân bằng âm dương; "2" - bình hành ba động;"3" - bình Ổn; , “4" - đại hình ba động; "5" - chậm lại, ẩm ướt, v.v...
Ba là số tự công cần phải phối hợp nhiều loại thủ ấn v.v... Còn liệu pháp tượng số thì không dùng bất cứ động tác quy định nào. Nhưng cần nói rõ liệu pháp tượng sô" bát quái tuyệt đối không bác hỏ số tự công sinh mệnh cụ thể.

Chữa bênh theo liêu pháp này rất đơn giản,dó là ưu điểm đặc biệt của nó, nhưng nắm vững và vận dụng liêu pháp này thì không đơn giản, vây có con đường nào đê nhập môn hay không?

Chỉ cần có kiến thức cơ bản có liên quan đến bát quái và đông y, nắm vững liệu pháp này không khó. Có một con đường nhập môn là trong 101 bài thí dụ các bệnh điển hình mà tôi đã giới thiệu. Nó cũng là 101 bài thuốc kinh nghiệm (nghiệm phương), người bệnh có thể tự xem xét bệnh của mình, nếu tương tự cũng có thê áp dụng chữa được có hiệu quả nhất định. Nhưng là một người làm công tác y vụ, cần phải từ nguyên lý cơ bản nắm chắc các kiến thức cơ sở và kết hợp với thực tế của lâm sàng, cũng phải mất nhiều công phu, cũng giống nội dung của câu nói "bất chi dịch, bất túc dĩ ngôn thái y".
Liệu pháp của bà có phải bệnh của gì cũng chữa được không

Trên trần thế này không có, cũng không có thê có loại liệu pháp vạn năng, không có một loại khí công nào hoặc liệu pháp nào có thể bao quát được bách bệnh. Trong thực tiễn lâm sàng chứng tỏ, liệu pháp này có hiệu quả với trên 70 loại bệnh, trong đó có hiệu quả chữa nhanh đến tôi cũng phải sợ.
ĐỌC TƯỢNG SỐ CHỮA BỆNH.

Phương pháp điều trị tượng số bát quái
Đây là một phương pháp tuân thủ các nguyên lý tượng số dịch tượng, đồng thời lấy lý luận tằng tượng của Đông y làm cơ sở kết hợp với ý niệm khí công, đã sáng tạo ra một phương pháp điều trị tượng số bát quái. Đó là cách điều trị bằng khí công loại mới, thông qua người bệnh đọc niệm một nhóm tượng số bát quái được sắp xếp theo y dịch đế đạt tới mục đích chữa khỏi bệnh, nó được kết hợp hữu cơ giữa Chu dịch, Đông y và Khí công dưới sự chỉ đạo của tư tương triết học biện chứng duy vật của Chu dịch, lấy học thuyết bát quái làm hạt nhân, lấy lý luận tàng tượng của đông y làm cơ sở, lấy tượng số bát quái làm môi giới truyền đạt tin tức, đồng thời lại tiếp thu được phương pháp điều trị đơn giản, thực dụng mà kỳ diệu của nhiều thành quả nghiên cứu khoa học hiện đại.

Tượng số bát quái là hình ảnh thu nhỏ của thiên đạo, vật đạo, nhân đạo, nó đều bao hàm các tin tức vũ trụ phong phú, là môi giới của "thiên nhân hợp nhất". Cho nên bản thân mỗi một mã tượng số đều mang theo những tin tức tương ứng, trong quá trình niệm có thê điều chỉnh tự nhiên trường bát quái cua cơ thể làm cho cộng hưởng đồng bộ với trường bát quái vũ trụ, bởi vậy không ràng buộc (tên thời gian, địa điếm, tư thế, phướng vị và có thể niệm tùy lúc, tùy nơi: đi, đứng, ngồi, nằm trong sinh hoạt hàng ngày. Nhưng cũng có trường hợp đặc biệt, như có người bệnh đã theo một phương vị nhất định, niệm với thời gian nhất định để tăng cường hiệu ứng của tin tức thời gian, không gian. 

Tượng số bát quái, gồm 8 quẻ, tượng và số.
Tám quẻ là càn (=), đoài .== ), ly(==), chấn (=-=), tốn (==), khảm (-_=) , cấn( —), khôn ( = )
Tượng của bát quái tương ứng có số của bát quái là Thiên,Trạch, Hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn, Địa, tức là số thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 của tiên thiên bát quái. 

"Bát quái thành liệt, tượng tại kỳ trung” tức 8 quẻ xếp thành hàng, tượng nằm trong nó. Có nghĩa là nói bát quái chia nhau đại biểu & loại tượng vật nói trên, cổ nhân nói: "Phục Hy vẽ bát quái bắt đầu từ số" tức là các số tự nhiên nói trên. Như vậy tượng và số là gắn với nhau không thể tách ra được, nó là một thực thể. được gọi "tượng dĩ định số"", "số” dĩ trưng tượng".

Dịch học cho rằng bát quái là mô thức cơ bản của kết cấu vũ trụ, tượng của bát quái là tượng trưng vạn sự vạn vật (kể cả phủ tạng cơ thế), số của bát quái là dịch số của vạn sự, vạn vật của vù trụ. Tượng số là kết quả tạo hóa tự nhiên, là căn nguyên về vận động của vũ trụ. Chính thể quan hợp nhất giữa trời và người của "Chu dịch". Thế giới vật chất là một thể tương quan với nhau, thông liền với nhau, mà bát quái là mô thức kết cấu cơ bản của nó, lớn đến thiên thẻ vũ trụ, nhỏ đến phủ tạng, tế bào của cơ thể người đều như vậy cả. Lý luận "Tự nhiên toàn tức luận" hiện đại cho rằng, toàn vũ trụ từ cách nhìn vĩ mô hay vi mô đều có luật toàn tức luận. Lý luận "luật toàn tức sinh vật" hiện đại cho rằng bất cứ một phần nhỏ nào của sinh vật đều là "hình ảnh thu nhỏ” của chính thể, giữa chính thê và cục bộ đều có liên hệ tính chất toàn tức. 

Như vậy Bát quái là hình ảnh thu nhỏ toàn tức của cả vũ trụ, còn cơ thê con người cũng là hình ảnh thư nhỏ toàn tức bát quái của cơ thể con người, giữa chúng đều có liên hệ về tính chất toàn tức, là một chính thể thông suốt với nhau. Khi người bệnh đọc nhẩm một nhóm số bát quái, sẽ hình thành sóng tin tức với năng lượng nào đó, những sóng này sẽ được vận chuyển từ đại não đến mọi phương vị của phủ tạng. Khi những sóng tin tức này làm thức tỉnh, kích thích phát động những tin tức bát quái tương ứng trong phủ tạng và tế bào hội tụ thành sóng tin tức với năng lượng nào đó. sô hoàn thành hai hạng mục: một là điều chinh chức năng chính thể. hai là xung kích vào các "ố’ bệnh" cục bộ. khiến các tổ chức kết cấu bái quái của ổ bệnh từ vô trật tự biến sang có trật tự. khiến trường cơ thể cộng hưởng đồng bộ với các vũ trụ, từ đó hợp nhất được trời với người, thông các kinh lạc trong cơ thể, cân bằng âm dương, điều hòa khí huyết, đạt tới mục đích chữa bệnh làm khỏe người.

Từ "Chu dịch" và các văn kiện cổ tìm được, lấy Càn là đầu, đại tràng; Đoài là mặt, tim; Chấn là chân, Can; Tôn là đùi,mật; Khảm là tai, thận; Cấn là tay, dạ dày; Khôn là bụng, tỳ. Đã tìm ra các cách ghi dùng trong các đơn thuốc trong "Thiên địa chi cốt” còn phát hiện ra cách dùng số hay của "số" trong các đơn thuốc của các danh y cổ xưa. Như trong đơn thuốc có ghi "Đại táo 6 quả" mà không cần là to, nhỏ, chẳng cần đến trọng lượng mà chi là "sáu” điều đó phải chăng là ngẫu nhiên chăng? Ở đây không chỉ là 6 quả có tác dụng dược tính của nó, mà số "6" cũng lại là mảnh cắt về tin tức, điều đó nói lên rằng các người xưa đã dùng tượng số kết hợp với thuốc trên lâm sàng. 

Đặc điểm của đọc tượng số chữa bệnh
Trên thực tiễn lâm sàng các đặc điểm của điều trị tượng số là: "tự nhiên", "tự do", "tự vi" và "mỗi chìa mở một khóa", điều đó sẽ tạo ra các điều kiện có lợi mang tính phổ cập cao, còn chìa nào mở khóa nấy, đó chính là tư tưỏng minh triết, là tinh thần cầu thực của nền y học cổ truyền,chỉ cần có hiệu quả điều trị tốt, được quảng đại người bệnh tiếp thu.

Liệu pháp tượng số bát quái có tính ứng dụng và hiệu quả thực tế cao.
“Tự nhiên" là chỉ khi người bệnh đọc nhẩm tượng số, tâm trạng tự nhiên, hình thái tự nhiên, không cần có tác động đặc biệt ở bên ngoài. Cũng không cần tư thế đặc biệt nào, cũng chẳng cần ý niệm đặc biệt nào.

“Tự do" là chỉ khi người bệnh đọc nhẩm tượng số có thể tiến hành tự nhiên, tùy lúc. tùy nơi, cũng không cần chọn thời gian, địa điểm, chiều hướng, lúc trà dư tửu hậu. sớm hoặc tốì, đi, đứng, ngồi, nằm, đánh răng, súc miệng, xem ti-vi, tán gẫu... đều được.

"Tự vi" là chỉ yêu cầu người bệnh tự mình lo liệu không cần phải có nhiều người một lúc. Không cần có sự ám thị và chỉ dẫn của thầy dạy khí công, không cần khí công sư phát ngoại khí.
“Mỗi chìa mở một khóa" là chỉ điều trị cho mỗi người một khác, mỗi bệnh một khác, không phải một nhóm tượng số là dùng cho tất cả mọi người, mà là mỗi bệnh thì đều có nhóm tượng số khác nhau, tức là mỗi người, mỗi bệnh sẽ có một "số" riêng. Nó không phải là hàng vạn người tập một loại công, hàng nghìn người niệm một số, mà là chìa nào mở khóa nấy.

Đọc tượng số bát quái chữa bệnh
Khi ta đọc (niệm) tượng số chữa bệnh thì không phát ra thành tiếng hoặc phối hợp với ý niệm. Tốc độ đọc nên chỉ trung bình, không nhanh cũng không chậm, nhanh quá dễ bị nóng, chậm quá dễ bị lạnh. Giữa các nguyên (các dãy số) nên dừng một chút.

Về tổng quan, đa số bệnh nhân trong quá trình niệm số,xuất hiện những hiện tượng như đầu nhẹ nhõm, sáng mắt, thần khí thoải mái, mát nóng, hành khí v.v... với những cảm giác dễ chịu khác nhau. Loại cảm ứng này, nói chung trong quá trình niệm chỉ cần mấy phút hoặc mười mấy phút là đã xuất hiện nên thuộc loại rõ ràng. Còn có rất ít trường hợp phải niệm tới nửa giờ hoặc dài hơn nữa mới xuất hiện cảm ứng thì thuộc loại ngầm. Người loại bệnh rõ ràng, nói chung chữa tương đối nhanh, còn người loại bệnh ngầm thì tương đối chậm, tuy nhiên hiệu quả chữa trị vẫn là ổn định.

Trong quá trình niệm nếu đầu, dạ dày, tim v.v... không cảm thấy gì thì cứ tiếp tục niệm, tức là đã sản sinh tác dụng chữa bệnh làm khỏe thân thể. Quan sát thời gian người bệnh niệm các mật mã tượng số. nói chung ngắn là vài giây, vài phút; nếu dài là mười mấy phút hoặc mấy chục phút thì sẽ thấy các cảm ứng khác nhau, như xuất hiện đầu mát, mắt sáng. thân thể nhẹ nhàng, dễ thở v.v... ngược lại. nếu xuất hiện ở đầu hoặc dạ dày chưa thoải mái hoặc có cảm ứng tim đập thất thường, ngắn hơi, khó chịu v.v... thì nói chung việc lập số có sai sót. cần lập lại số mới. Có những bệnh nhân không có những cảm ứng rõ ràng nhưng kiên trì niệm thì cũng có hiệu quả tương tự.

Niệm mật mã tượng số không câu nệ vào thời gian địa điểm, tư thế, trạng thái, phương hướng, trong sinh hoạt bình thường có thể tiến hành cả khi đi, khi ngồi và khi nằm. Nếu như sau khi thả lỏng nhập tĩnh, hoặc trước khi ngủ, hoặc sau thức giấc cũng có thể niệm thì hiệu quả càng tốt. Căn cứ vào bệnh tình, thời gian mỗi lần niệm có thể dài hoặc ngắn. Lúc nào nghĩ thấy thì niệm hoặc tương niệm đều được. Tất cả đều tuân theo tự nhiên. 

Sau khi bệnh đã khỏi, có thể tiếp tục niệm như cũ để củng cố hiệu quả điều trị, vừa là đế tăng cường sức khỏe. Trong quá trình niệm các mật mã tượng số, cơ năng sinh lý trong cơ thể sẽ ở vào trạng thái điều giải, năng lượng tin tức tương ứng trong tế bào của cơ thể luôn luôn tăng lên và xung kích vào ô bệnh, khi đó những chứng trạng ở phần bị bệnh có khả năng tạm thời nặng lên; chỉ cần đầu, dạ dày và tim không có cảm giác bất thường là có thê tiếp tục niệm.

Liệu pháp tựợng số có thề sử dụng riêng lẻ trên lâm sàng, cũng có thể phối hợp với châm cứu v.v...
Trong quá trình điều trị, căn cứ vào sự thay đối bệnh tình của người bệnh mà điểu chỉnh thích đáng tượng số, nếu trong quá trình niệm cảm thấy dễ chịu thì vẫn làm như các bài đã có, không nên thay đổi.

Những ngưòi bệnh tinh thần không bình thường hoặc trí nhớ kém thì cấm sử dụng.
Khi dùng liệu pháp này thì không nên phôi hợp với các loại công pháp khí công khác, vì nó ảnh hưởng tới liệu pháp tượng số

Tác dụng của phương pháp niệm số
Niệm số trị bệnh là một trong những phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc rất hiệu quả do Lý y sư nghiên cứu dựa vào thuyết Chu Dịch, thuyết Âm dương ngũ hành và triết lý y học Đông phương. Niệm số có thể chữa được hàng trăm bệnh.

Có bệnh chỉ cần niệm một vài lần là khỏi, có bệnh phải niệm vài ngày, cũng có bệnh phải niệm hàng tháng (sau mỗi lần niệm bệnh sẽ giảm dần).

Cách niệm số trị bệnh
Niệm số rất dễ thực hiện bạn có thể làm bất cứ lúc nào khi rảnh rỗi, lúc nghỉ ngơi là thời điểm tốt nhất để áp dụng phương pháp niệm số này.
Tùy vào từng loại bệnh sẽ có các con số niệm khác nhau.
Ví dụ:
Để chữa bệnh hoa mắt, chóng mặt (thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình) bạn sẽ niệm số: 820.650
Cách Niệm:
Niệm trầm (không cần ra tiếng), niệm là: Tám hai không. Sáu năm không. Lại tiếp, tám hai không. Sáu năm không. Niệm liên tục khoảng 5 đến 10 phút mỗi lần.
Ngày niệm 2-3 lần. Khi gặp dấu chấm thì tạm ngưng giống như đọc đoạn văn dừng lại ở dấu chấm. Khi niệm nhiều lần sau đó thì ngưng lâu hơn khi gặp dấu chấm.
Niệm từ từ, niệm đến số nào thì phải tưởng tượng ra số đó. Có thể niệm ở tư thế ngồi, nằm hoặc vừa đi vừa niệm. Nếu bị nhiều chứng bệnh thì niệm chữa chứng bệnh cấp kỳ trước hoặc có thể hôm nay niệm chữa bệnh này, mai niệm chữa bệnh khác.
Niệm số không gây phảm ứng phụ, không công phạt với các loại thuốc, có thể kết hợp vừa dùng thuốc vừa niệm số càng nhanh khỏi bệnh.

NIỆM SỐ CHỮA BỆNH THƯỜNG GẶP.
Một số chứng bệnh có thể chữa khỏi bằng phương pháp niệm số như sau:
1, Viêm họng, sưng đau trong họng, ho: 5000.20
2, Viêm mũi, viêm xoang, mặt mũi đau nhức, ngạt mũi, sổ mũi: 60
3, Đau đầu: 6050
4, Đau đầu kèm theo hoa mắt chóng mặt, có thể buồn nôn(Thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình): 820.650
5, Đau một bên đầu, mắt căng, mờ mắt, có thể nôn ói: 260
6, Mắt đau sưng, không mở ra được: 5.650
7, Mắt đau , sưng đỏ, đắng miệng lòng buồn bực: 003
8, Viêm giác mạc,đau đầu, nhức mắt: 2000
9, Viêm phế quản, ho, khó thở: 20.640
10, Đau Tim, đau vùng ngực trái: 380
11, Đau tim, kèm theo cao huyết áp: 720.60
12, Đau dạ dày: 820.40
13, Tiểu rắt, buốt, bụng dưới đau tức: 600.50
14, Tiểu són, tiểu nhiều , tiểu không tự chủ: 200.50
15,Mề đay, mẩn ngứa, dị ứng: 0002
16, Vú có u cục, viêm tuyến vú(mới bị): 640.20
17, Vú có u cục,viêm tuyến vú (bị đã lâu): 640.000.720
18, Sau khi sinh con bị mất sữa: 38000.40
19, Trẹo khớp cổ tay, đau khớp cổ tay: 70
20,Trẹo cột sống, đau lưng không quay người được: 6000
21, Trấn thương ở đùi đau: 000.000.70
22, Trấn thương ở sườn ngực đau: 5000.80
23, Trấn thương ở hông, đùi đau: 720.60.430
23, Trấn thương đau vai, đùi, bắp chân: 8000.70
21, Viêm khớp, chân nặng nề, vô lực: 00100.00700
22, Viêm đau khớp gối: 1000.7000
23, Đau lưng như có vật đè nặng: 640.720
24, Đau lưng do thoái hóa cột sống: 1000.60
25, Đau lưng lan xuống hông, đùi(viêm đau thần kinh tọa): 70.20
26, Đau cánh tay, có thể không nhấc lên được: 650.000
27,Gót chân sưng đau: 4000.370
28, Chân đùi đau tê: 650.30.80
29, Trĩ, Đại tiện ra máu: 00100.800
30,Phù, đau lưng, đau đùi: 650.000.3820
31, Viêm tử cung, đau bụng, nhiều khí hư: 6000
32, Sỏi thận: 720.40.60
33, Sỏi bàng quang đau tức bụng dưới: 60.2000
34, Sỏi mật,viêm túi mật: 40.60.3800
35, Vã mồ hôi, mồ hôi bàn tay, bàn chân, run tay: 650.3820
36, Phong thấp, viêm phụ khoa, viêm niệu đạo, kém ăn, khó ngủ: 20.650.380
37, Thoái hóa đốt sống cổ, đau vai gáy, đau đầu: 2650.380

1 nhận xét:

  1. Hình nền của ad làm khó đọc và nhức mắt quá hic!

    Trả lờiXóa